Đặt câu hỏi

 

Các hỏi thường gặp

Tim đập nhanh, hơi khó thở khi uống cafe có phải bị bệnh tim không?

Bởi: Ánh Ngọc (Email: **ocanh@gmail.com | Điện thoại: *)
Chào các bác sĩ, cho em hỏi cứ mỗi khi em uống cafe là tim em đập nhanh, hơi khó thở hơn khi không uống cafe, đặc biệt là khi uống cafe vào buổi sáng, buổi tối vẫn uống mà không có tình trạng như vậy. Xin bác sĩ cho biết như vậy có bệnh gì về tim không?

Tim đập nhanh khi uống cà phê không phải là một dấu hiệu của bệnh tim. Đó có thể là do sự nhạy cảm quá mức với chất kích thích có trong cà phê (nói một cách dễ hiểu là do cơ địa mỗi người). Nếu bị cảm giác hồi hộp khi uống cà phê thì hoặc pha cà phê loãng hơn hoặc dùng loại cà phê đã khử caffeine.

Uống thuốc tim mạch có được ăn bưởi

Bởi: Nhân (Email: **antran@gmail.com | Điện thoại: *)
Tôi có nghe nói là thuốc tim mạch kỵ với bưởi vì có những hoạt chất hóa giải lẫn nhau, trong khi ăn bưởi lại có lợi cho việc chữa bệnh tim mạch. Xin bác sĩ cho biết có đúng như vậy không? Nếu đúng thì tại sao? Chân thành cảm ơn bác sĩ!

Không có chứng cứ nào cho thấy ăn bưởi có lợi cho việc chữa bệnh tim mạch. Nói chung, ăn các loại trái cây tươi giàu vitamin (chứ không phải chỉ là bưởi) đều có lợi cho sức khỏe. Mặt khác, có nhiều nghiên cứu cho thấy nước bưởi uống chung với một số thuốc tim mạch thì có thể làm giảm hoạt tính của thuốc. Tuy nhiên cũng nên nhớ là trong các nghiên cứu này người ta dùng nước từ trái bưởi Tây chứ không phải trái bưởi của Việt Nam. Dù sao, nếu thận trọng thì nên ăn bưởi và các loại quả họ bưởi như cam, chanh...cách xa các cữ uống thuốc vài giờ đồng hồ.

Khó thở khi tập luyện, hoạt động mạnh

Bởi: Mạnh (Email: **nhdt@gmail.com | Điện thoại: *)
Chào bác sĩ cháu bình thường nghỉ ngơi thì nhịp tim cháu cảm thấy chậm hơn đi khám với điện tim bác sĩ kêu bị nhịp tim chậm cháu về ăn uống bổ sung nhưng vẫn cảm giác khó thở chỉ khi nào cháu đi tập thể dục đi bơi mà gắng sức cháu cảm giác bình thường tim thấy đập nhanh hơn rất dễ chịu nhưng cứ khi nghỉ ngơi là tim lại đau và khó thở như vậy. Cháu không biết nên làm sao mong bác sĩ tư vấn giúp cháu năm nay cháu 20t

Chào cháu!
Không biết cháu có bị bệnh tật gì kèm theo hay không (ví dụ bệnh tim mạch, hen phế quản…) và cháu chạy tập thể dục đã lâu chưa, triệu chứng khó thở này có giảm trong các lần chạy hay không? Cháu nên biết là có nhiều nguyên nhân gây khó thở, nóng vùng ngực sau khi chạy (vận động). 
Đầu tiên, có thể là do bệnh lý của cơ thể, đặc biệt là bệnh tim mạch, hô hấp (hen phế quản). Sự vận động của một người bình thường sẽ là quá tải đối với những người bị mắc các bệnh này. 
Tuy nhiên, ngay cả những trẻ không hề có bệnh tật gì cũng có nguy cơ gặp các dấu hiệu như trên. Chẳng hạn, nếu hôm đó không ăn sáng, thức quá khuya học bài… khi đi học sẽ rất mỏi mệt. 
Ngoài ra, nhiều trẻ thường ngày rất ít vận động, khi vào giờ tập thể dục lại phải vận động mạnh nên không quen. Tập một lúc, thấy mệt đứt hơi, khó thở. Lý do là khi chạy, các cơ quan phải hoạt động mạnh (tim đập nhanh hơn, hơi thở gấp hơn…) mà cơ thể chưa kịp thích nghi nên sẽ có những triệu chứng như con kể.
Theo tôi, cháu nên bảo bố mẹ cho đi khám sức khỏe tổng quát, nếu có bệnh lý thì báo cáo nhà trường, thầy cô giáo thể dục để có cách học riêng, hợp lý hơn (có thể được miễn một số môn thể dục nếu nguy hiểm đến tính mạng).
Trong khi chạy tập thể dục, nếu thấy khó thở, chóng mặt, hoa mắt, bủn rủn... thì cháu nên giảm dần vận động để dừng lại, báo cho thầy cô biết. Không nên dừng lại hoặc ngồi thụp xuống một cách đột ngột vì rất dễ bị đột quỵ. 
Ngoài những giờ thể dục, cháu cần có thói quen vận động thân thể thường xuyên nhé. 
Chúc cháu có sức khỏe tốt!

Suy tim độ 3 ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống sau này

Bởi: Hoàn (Email: **anhoan@yahoo.com | Điện thoại: *)
Chào bác sĩ! Người yêu cháu năm nay 26 tuổi. Bị bệnh tim bẩm sinh nhưng mới phát hiện 2 năm nay. Được các bác sĩ chẩn đoán là suy tim độ 3, rung nhĩ, hở van hai lá. .... Cách đây một tuần bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật thay van hai lá và sửa van ba lá cho anh ấy. Hiện tại ngày nào anh cũng uống thuốc chống đông. Cháu muốn biết thay van này được bao lâu. Và suy tim ảnh hưởng đến cuộc sống sau này như thế nào? Mấy năm thì phải mổ lại? Cháu cám ơn bác sĩ ạ.

Chào bạn!
Bệnh suy tim được chia làm 4 độ theo mức độ nặng dần, người yêu của bạn đã suy tim giai đoạn 3 là giai đoạn nặng và không có khả năng hồi phục. Ngoài ra rung nhĩ là một tình trạng nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến tính mạng của bệnh nhân. Lý do vì rung nhĩ làm tăng nguy cơ hình thành các cục máu đông trong buồng tim, khi các cục đông này theo dòng tuần hoàn đến các cơ quan có thể gây tắc mạch. Khi tắc mạch não gây nhồi máu não, tắc mạch chi có thể gây hoại tử chi… Việc thay van hai lá và sửa van ba lá có tác dụng hạn chế mức độ tiến triển của bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh chứ không thể chữa khỏi bệnh. 
Vấn đề bạn hỏi thay van tim được bao lâu và sau bao lâu phải mổ lại, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào lâm sàng và mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh. Suy tim ảnh hưởng đến mọi hoạt động trong cuộc sống của người bệnh. Từ chế độ ăn uống đến chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi, thậm trí là quan hệ tình dục…Ví dụ như người suy tim không nên ăn mặn, uống nước hạn chế để làm giảm khối lượng tuần hoàn và giảm gánh nặng cho tim, phải loại bỏ hoàn toàn các hoạt động gắng sức tránh các cơn khó thở đột ngột có thể giết chết người bệnh,…Người suy tim, đặc biệt ở giai đoạn nặng phải tuyệt đối tuân thủ chế dộ điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc để hạn chế đối đa sự tiến triển của bệnh và tránh các nguy cơ nguy hiểm đến tính mạng.
Hy vọng câu trả lời giúp ích cho bạn! Chúc bạn vui sống!

Khó thở, tim đập nhanh liên tục có phải bị suy tim?

Bởi: Minh Anh (Email: **angminhanh@gmail.com | Điện thoại: *)
Xin chào Bác sĩ! Em tên Minh Anh, năm nay 35 tuổi. Thời gian gần đây em bị cảm ho sổ mũi 2 tuần, em uống thuốc không hết, và bị sốc thuốc làm em khó thở, lồng ngực tê không thở được phải cấp cứu vô nước biển mới đỡ. Nhưng từ bữa đó tới giờ, tim em thường hay khó thở, tim đập nhanh liên tục và thở rất mệt. Cử động nhanh, nói lớn tiếng tim cũng đập nhanh và khó thở. Em rất lo sợ, không biết mình bị gì, suy tim chăng? Nếu bị vậy có cách nào chữa trị không? Xin Bác sĩ chỉ giúp. Xin cảm ơn

Chào bạn!
Suy tim là bệnh có suy giảm chức năng co bóp tống máu của cơ tim, bệnh có thể gây ra một số triệu chứng sau:
- Thở gấp, đặc biệt là khi nằm
- Cảm giác hồi hộp, tim đập nhanh
- Cảm giác mệt mỏi, kiệt sức
- Ho hay thở khò khè, đặc biệt khi luyện tập hay nằm
- Sưng bàn chân, mắt cá chân và cẳng chân: hay gặp vào cuối ngày
- Tăng cân do tích tụ dịch: thường ở giai đoạn sau của suy tim
- Nhầm lẫn hay không thể suy nghĩ sáng suốt…
Để chẩn đoán chính xác suy tim bạn cần khám chuyên khoa tim mạch và làm các xét nghiệm quan trọng như: chụp xquang tim phổi, siêu âm tim. Bệnh phát hiện càng sớm thì khả năng hồi phục càng cao, thời gian tiến triển của bệnh càng chậm.
Chúc bạn luôn khỏe!

Đau thắt ngực, mắt hoa có phải triệu chứng của suy tim?

Bởi: Hoa Mai (Email: **uyenhoamai@yahoo.com | Điện thoại: 098463874*)
Bác sĩ ơi, cho con hỏi về triệu chứng suy tim. Con có mắc bệnh nở van tim bẩm sinh nhưng đã phẫu thuật được 15 năm trước rồi. Năm ngoái con thường xuyên bị đau thắt vùng cơ tim và hơi khó thở. Sau khi đi tái khám thì bác sĩ nói vẫn ổn và cho con một loại thuốc uống khi đau. Gần đây con bắt đầu thấy đau trở lại ít hơn trước nhưng giờ mỗi khi leo lên cầu thang hay làm việc gấp gáp hay việc nặng thì con cảm thấy tim đập rất mạnh như muốn dứt một mạch máu ra vậy, lúc đó thì cơ tim hơi nhói và khó thở. Khoảng một tuần này dấu hiệu đó vẫn không ngừng tăng, mỗi sáng vừa thức dậy, bước xuống giường con cũng cảm thấy choáng váng, mệt mỏi, hai mắt mí mặt rất nặng và chỉ thấy những lốm đốm đến che mắt lại (giống như khi bị ngất) trong khoảng 30 giây sau thì mới đỡ hơn ạ. Bác sĩ cho con hỏi đó có phải dấu hiệu suy tim hay là dấu hiệu của bệnh lí khác không ạ? Con cảm ơn bác sĩ.

Chào bạn!
Triệu chứng chính của suy tim là khó thở và ho. Lúc đầu người bệnh chỉ khó thở khi gắng sức, về sau nằm hoặc ngồi nghỉ cũng khó thở và ho, người bệnh có thể khạc ra đờm lẫn máu, có khi khó thở đến đột ngột như trong cơn hen tim, cơn phù phổi cấp, làm người bệnh khó thở dữ dội, hốt hoảng, ho ra đờm có bọt hồng, có khi bọt hồng tự trào ra miệng. Nếu ta nghe phổi sẽ thấy rất nhiều ran nổ nhỏ hạt rồi sau là ran ướt từ hai đáy phổi lan lên khắp hai trường phổi người. Ngoài ra người bệnh có thể có biểu hiện phù. Phù do suy tim ít khi phù lớn như người bị bệnh thận (nhất là hội chứng thận hư). Khi mới bắt đầu, bệnh nhân chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước. Buổi chiều phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, thấy khi nhấc ngón ra mà da vẫn lõm (phù ấn lõm).
Bạn mắc bệnh hở van tim bẩm sinh và đã được phẫu thuật 15 năm. Với các triệu chứng như hiện tại bạn mô tả cùng với tiền sử bệnh của bạn thì có khả năng là bạn bị suy tim. Bạn nên đi khám chuyên khoa tim mạch càng sớm càng tốt, nhất là thời gian này các triệu chứng của bệnh ngày càng tăng. 
Chúc bạn mạnh khỏe!

Phòng ngừa bệnh suy tim như thế nào?

Bởi: Công (Email: **ngnn@gmail.com | Điện thoại: 094756398*)
Hiện tôi đang bị bệnh tim, tôi muốn hỏi phòng ngừa bệnh suy tim như thế nào?

Chìa khóa để ngăn ngừa suy tim là giảm các yếu tố nguy cơ. Có thể kiểm soát hoặc loại bỏ rất nhiều các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch - huyết áp cao và bệnh động mạch vành, ví dụ - bằng cách thay đổi lối sống cùng với sự giúp đỡ của bất cứ loại thuốc cần thiết.

Phong cách sống thay đổi có thể làm để giúp ngăn ngừa bệnh suy tim bao gồm:

Không hút thuốc lá.

Kiểm soát các điều kiện nhất định, chẳng hạn như huyết áp cao, cholesterol cao và bệnh tiểu đường.

Duy trì hoạt động thể chất.

Ăn thực phẩm lành mạnh.

Duy trì cân nặng.

Giảm và quản lý căng thẳng.

Cho tôi hỏi triệu chứng của bệnh suy tim được không?

Bởi: Mai Phương (Email: **iphuongdt@gmail.com | Điện thoại: *)
Cho tôi hỏi triệu chứng của bệnh suy tim được không?

Suy tim có thể mãn tính, hoặc cấp tính, có nghĩa là tình trạng suy bắt đầu đột ngột hoặc lâu dài

*Các triệu chứng suy tim mãn tính

Khó thở khi gắng sức hoặc khi nằm xuống.

Mệt mỏi và yếu.

Sưng (phù) ở chân, mắt cá chân và bàn chân.

Nhịp tim hanh hoặc nhịp tim không đều.

Giảm khả năng tập thể dục.

Ho dai dẳng hoặc thở khò khè có đàm máu nhuốm màu trắng hoặc màu hồng.

Sưng bụng (cổ trướng).

Tăng cân đột ngột từ giữ nước.

Thiếu sự thèm ăn và buồn nôn.

Khó tập trung hay sự tỉnh táo giảm.

*Các triệu chứng suy tim cấp tính

Các triệu chứng tương tự như của suy tim mãn tính, nhưng nghiêm trọng hơn và bắt đầu bất ngờ.

Đột ngột chất lỏng tích tụ.

Nhịp nhanh hoặc nhịp tim không đều (đánh trống ngực).

Đột ngột khó thở và ho ra màu hồng, chất nhầy bọt.

Đau ngực, nếu suy tim là do một cơn đau tim.

Đến gặp bác sĩ khi

Khám bác sĩ nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan đến suy tim. Chúng bao gồm:

Đau ngực.

Mệt mỏi và yếu.

Nhịp nhanh hoặc nhịp tim không đều.

Khó thở khi phát huy bản thân hoặc khi nằm xuống.

Giảm khả năng tập thể dục.

Ho dai dẳng hoặc thở khò khè có đàm máu nhuốm màu trắng hoặc màu hồng.

Sưng ở bụng, chân, mắt cá chân và bàn chân.

Khó tập trung hay sự tỉnh táo giảm.

Trước tiên, có thể tìm hiểu suy tim từ một chuyến viếng thăm phòng cấp cứu sau khi các triệu chứng xấu đi. Các vấn đề về tim và phổi có thể gây ra các triệu chứng tương tự như suy tim.

Nếu có chẩn đoán bệnh tim, và nếu có các triệu chứng đột nhiên trở nên tồi tệ hơn hoặc phát triển một dấu hiệu mới hoặc triệu chứng, có thể có nghĩa là suy tim hiện tại trở nên tệ hơn hoặc không đáp ứng với điều trị. Liên hệ với bác sĩ theo số 0932 319 099 ngay để được giải đáp.

Người bệnh suy tim như tôi có thể tập thể dục không?

Bởi: Trần Trọng Hòa (Email: **att@yahoo.com | Điện thoại: *)
Người bệnh suy tim như tôi có thể tập thể dục không?

Luyện tập thể dục là hoạt động rất quan trọng đối với người bệnh suy tim. Tuy nhiên cũng không nên quá lạm dụng, tập thể dục với cường độ vừa phải sẽ giúp cải thiện lưu thông máu và giảm bớt một số triệu chứng khó chịu cho người bệnh. Có thể trao đổi những phương pháp tập luyện phù hợp với Bác sĩ để nhận được những lời khuyên.

Suy tim có thể điều trị được không?

Bởi: Ngọc Lan (Email: **nhuong@gmail.com | Điện thoại: *)
Suy tim có thể điều trị được không?

Có nhiều phương pháp điều trị suy tim rất hiệu quả trong việc làm giảm triệu chứng và làm giảm sự tiến triển của tình trạng này. Người bệnh có thể thảo luận với bác sĩ điều trị để tìm kiếm cách điều trị phù hợp nhất.

Khi nào cần đi khám sàng lọc về bệnh mạch vành

Bởi: Trang Lưu (Email: **utrang@gmail.com | Điện thoại: *)
Cho tôi hỏi là có những ai cần đi khám sàng lọc bệnh mạch vành không?

Những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ ở trên đều nên định kỳ khám chuyên khoa Tim Mạch 6 tháng 1 lần để được tư vấn, sàng lọc bệnh mạch vành. Đặc biệt những ai có cơn đau ngực cũng nên đến khám chuyên khoa Tim mạch.
- Tại buổi khám tư vấn - sàng lọc bệnh mạch vành, bác sĩ sẽ hỏi cặn kẽ về tình trạng đau ngực, về tiền sử bệnh tật, gia đình, khám lâm sàng, đo huyết áp, làm 1 số xét nghiệm cần thiết như điện tâm đồ, siêu âm tim, xét nghiệm sinh hóa máu (Glucose, Lipid, Creatinine, GOT, GPT…), công thức máu - đông máu. Một số trường hợp bệnh nhân sẽ được làm nghiệm pháp gắng sức điện tâm đồ hoặc chụp MSCT động mạch vành.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành là gì?

Bởi: Trần Mạnh Hà (Email: **bk@gmail.com | Điện thoại: *)
Bác sĩ cho tôi hỏi các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành là gì? tôi hỏi để tôi còn phòng tránh bệnh.

Có nhiều yếu tố nguy cơ có thể gây ra bệnh mạch vành: Tăng huyết áp, Tiểu đường, Rối loạn Lipid máu, Hút thuốc lá, béo phì, lối sống tĩnh tại, trong gia đình có người trực hệ như bố mẹ, anh chị em ruột bị bệnh mạch vành cũng được xem là 1 yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành. Trên cơ sở đó, để phòng chống bệnh mạch vành, cần được điều trị tốt Tăng huyết áp, Tiểu đường, Rối loạn Lipid máu, Điều chỉnh chế độ ăn và tập luyện giảm cân nếu có quá cân – béo phì, bỏ thuốc lá.

Liệu có phải là đặt Stent xong là đã chữa khỏi hẳn bệnh mạch vành?

Bởi: Trần Thị Mai Dung (Email: **idunghth@gmail.com | Điện thoại: 097584936*)
Chào Bác sĩ tim mạch, Liệu có phải là đặt Stent xong là đã chữa khỏi hẳn bệnh mạch vành không?

Cơ chế sinh bệnh của bệnh mạch vành là do mảng xơ vữa nên đặt Stent có tác dụng điều trị 1 cách cơ bản cho đoạn động mạch vành thủ phạm. Kỹ thuật đặt Stent có thể gặp 1 số biến chứng tuy rất ít như: nhiễm trùng, nứt hoặc thủng mạch máu, chảy máu gây tụ máu chỗ chọc kim, chảy máu màng ngoài tim gây ép tim cấp, suy thận do thuốc cản quang, đột quị, và nghiêm trọng nhất là tình trạng tắc cấp trong Stent do huyết khối. Bản thân Sten là 1 dị vật đối với cơ thể nên có thể gây tăng sinh nội mạc mạch máu, lâu dần dẫn đến hẹp lại trong Stent. Để khắc phục tình trạng hẹp lại trong Stent, các Stent thuộc thế hệ sau được tẩm 1 loại thuốc có tác dụng chống phân bào, qua đó ngăn cản hiện tượng phát triển nội mạc, giúp cho lòng động mạch không bị hẹp lại.. Trên cơ sở đó, sau khi được đặt Stent, bệnh nhân vẫn phải được theo dõi định kỳ và tuân thủ chặt chẽ điều trị nội khoa, bao gồm các thuốc: Kháng ngưng tập tiểu cầu: Aspirine, Clopidogrel hoặc các thuốc tương đương: Prasugrel, Ticagrelor (thời gian dùng bao lâu tùy theo loại Stent thường (BMS) hay Stent tẩm thuốc (DES), Statine, Ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể AT1, chẹn bêta…

Bác sĩ cho tối hỏi điều trị bệnh mạch vành như thế nào?

Bởi: Phượng (Email: **uongdt@gmail.com | Điện thoại: *)
Bác sĩ cho tối hỏi điều trị bệnh mạch vành như thế nào?

Đối với bệnh mạch vành ổn định, điều trị bao gồm điều chỉnh lối sống như bỏ thuốc lá và rượu bia, chế độ ăn hợp lý, làm việc và tập luyện vừa sức…và dùng thuốc. Các thuốc điều trị bệnh mạch vành ổn định bao gồm: Aspirine (ngăn ngừa tạo huyết khối), Statine (làm giảm LDL Cholesterol là thành phần Lipid máu có hại, liên quan rất nhiều với tỷ lệ biến cố và tiên lượng bệnh mạch vành, đồng thời còn có tác dụng làm ổn định, ngăn ngừa nứt vỡ mảng xơ vữa, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chện bêta… và 1 số thuốc khác. Tất nhiên phải tuân thủ chống chỉ định, ví dụ không dùng Aspirine khi đang chảy máu dạ dày, hoặc không dùng chẹn bêta khi có tiền sử hen phế quản…Một số bệnh nhân bị bệnh mạch vành ổn định sẽ  được đặt Stent hoặc phẫu thuật bắc cầu chủ vành nếu có chỉ định. Đối với hội chứng động mạch vành cấp, BN phải được chăm sóc và điều trị ở các đơn vị mạch vành hoặc khoa Hồi sức cấp cứu. Tại đây BN được theo dõi và chăm sóc tích cực, điều trị nội khoa là nền tảng, một số bệnh nhân sẽ được đặt stent động mạch vành nếu có chỉ định, hoặc được phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành.

Tôi bị bệnh mạch vành có nguy hiểm không?

Bởi: Toản (Email: **toan@yahoo.com.vn | Điện thoại: *)
Tôi được chẩn đoán là bị bệnh mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim. Xin hỏi có nguy hiểm không?

Bệnh mạch vành rất nguy hiểm. Với thể bệnh mạch vành ổn định, hay còn gọi là mạn tính, người bệnh hay có cơn đau ngực khi gắng sức, ảnh hưởng rất nhiều tới sinh hoạt và công việc, và nếu không được điều trị tốt, bệnh mạch vành mạn tính có thể chuyển sang hội chứng động mành vành cấp. Hội chứng động mạch vành cấp có thể gây ra đột tử hoặc các biến chứng cấp tính nặng nề như sốc tim, suy tim trái cấp, loạn nhịp thất… với tỷ lệ tử vong rất cao. Nếu qua được giai đoạn cấp tính, di chứng thường gặp nhất của hội chứng động mạch vành cấp là suy tim và rối loạn nhịp tim, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tuổi thọ và chất lượng cuộc sống.

Động mạch vành là gì?

Bởi: Huyền (Email: **uonghuyen@gmail.com | Điện thoại: 098853924*)
Động mạch vành là gì? Chức năng của nó ra sao ạ. Cám ơn BS.

Chào em,
Động mạch vành là hệ thống mạch máu có chức năng nuôi dưỡng quả tim. Tuần hoàn động mạch vành là tuần hoàn dinh dưỡng tim. Mỗi quả tim của chúng ta có hai động mạch vành: động mạch vành phải và động mạch vành trái, các động mạch vành này xuất phát từ gốc động mạch chủ qua các trung gian là các xoang Valsalva và chạy trên bề mặt quả tim. Động mạch vành trái chạy một đoạn ngắn (1-3cm) sau đó chia thành 2 nhánh lớn là động mạch liên thất trước và động mach mũ, đoạn ngắn đó được gọi là thân chung động mạch vành. Như vậy, hệ thống động mạch vành có 3 nhánh lớn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tim là: động mạch liên thất trước, động mach mũ và động mạch vành phải. Từ 3 nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn như các nhánh vách, nhánh chéo, nhánh bờ… sẽ có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong quả tim. Khi bị bệnh lý động mạch vành, dòng máu từ động mạch vành tới cơ tim giảm sút, khi đó cơ tim không nhận đủ oxy và xuất hiện triệu chứng cơn đau thắt ngực.

Đau thắt ngực có phải bệnh mạch vành?

Bởi: Nguyễn Quang Lê (Email: **nq@yahoo.com.vn | Điện thoại: 0989364*)
Thời gian gần đây tôi thường bị đau thắt ngực. Không biết có nguy hiểm không? Có phải tôi đang bị một loại bệnh gì đó về tim hay không? Tôi có nghe nói đến bệnh mạch vành có liên quan đến cơn đau thắt ngực. Xin bác sĩ nói rõ về bệnh mạch vành và các triệu chứng của bệnh.

Bệnh tim mạch vành là tên gọi cho một số bệnh tim do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Về nguyên tắc, tim chúng ta hoạt động giống như một cái bơm để bơm máu, đưa máu tới khắp các mô cơ quan trong cơ thể. Để đảm bảo được chức năng bơm máu một cách đều đặn khoảng 70-80 lần / phút trong suốt cuộc đời, tim phải có một cấu tạo đặc biệt và được nuôi dưỡng bởi một hệ thống mạch máu riêng. Hệ thống mạch máu này được gọi là hệ mạch vành.

 

Bệnh mạch vành thường liên quan đến tình trạng tắt nghẽn trong lòng mạch vành hoặc do co thắt mạch vành. Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng xơ vữa động mạch làm cho các tế bào mỡ tích tụ ở thành trong của động mạch, dẫn đến thành mạch máu dày lên. Sự dày lên dần dần của các mảng xơ vữa này làm hẹp lòng mạch máu và đưa đến sự giảm lưu lượng máu đến nuôi cơ tim, gọi là thiếu máu cơ tim. Mảng xơ vữa ở thành mạch máu làm viêm mạch máu, rất dễ bị nứt hay vỡ ra làm tiểu cầu tích tụ và hình thành cục máu đông. Cục máu đông có thể làm nghẽn lòng mạch tại chỗ hoặc di chuyển đến những đoạn đã hẹp sẵn làm tắt nghẽn thình lình một đoạn động mạch vành gây ra nhồi máu cơ tim

 

Sự thiếu máu nuôi cơ tim sẽ gây nên bệnh đau ngực. Cơn đau thắt ngực thường xuất hiện ở vùng sau xương ức hay vùng trước tim. Bệnh nhân có cảm giác bị đè nặng và có một sức ép lan lên cổ, vai trái và xuống cánh tay, kéo dài khoảng 2-5 phút. Tùy theo độ nghẽn của mạch vành, người bệnh có thể có nhiều triệu chứng khác nhau như đau thắt ngực và nguy hiểm hơn là nhồi máu cơ tim, có thể gây tử vong. Đôi khi người mắc bệnh mạch vành có thể không có triệu chứng gì, chỉ tình cờ được phát hiện khi đo điện tâm đồ. Một số trường hợp có triệu chứng đau ngực và có bệnh mạch vành nhưng đo điện tâm đồ hoàn toàn bình thường, khi đó cần làm thêm một số biện pháp khác như đo điện tâm đồ gắng sức để chẩn đoán.

 

Bệnh thường gặp ở những người cao huyết áp, cholesterol cao, đái tháo đường, có tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm. Béo phì cũng là một trong những nguyên nhân được nhắc đến. Hút thuốc, ít hoạt động thể lực và stress cũng đóng vai trò quan trọng trong sự tiến triển của xơ vữa động mạch.

 

Để giảm nguy cơ bị bệnh mạch vành bạn nên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, tích cực điều trị bệnh cao huyết áp và tiểu đường, để luôn luôn giữ huyết áp và lượng đường trong máu ở mức độ bình thường, nên ăn ít chất béo và ăn nhiều rau, trái cây mỗi ngày. Luôn luôn tham khảo với bác sĩ nếu bị đau ngực hay có những triệu chứng nghi ngờ. Nhưng tốt hơn hết là chúng ta nên bắt đầu ngay từ lúc chưa mắc bệnh mạch vành với một cuộc sống điều độ, tập thể dục, chơi thể thao, không hút thuốc, chế độ ăn kiêng mỡ, tránh ăn mặn… để giảm áp lực cho tim và có một trái tim luôn khỏe mạnh.

Bệnh huyết áp cao ảnh hưởng như thế nào đến bệnh tim ạ?

Bởi: Văn Hùng (Email: **ngdt@gmail.com | Điện thoại: *)
Bệnh huyết áp cao ảnh hưởng như thế nào đến bệnh tim ạ?

Tăng huyết áp là bệnh lý tim mạch phổ biến nhất trong cộng đồng. Một số bệnh nhân có thể có các biểu hiện lâm sàng như đau đầu, chóng mặt, ù tai, mắt hơi mờ... nhưng rất nhiều bệnh nhân tăng huyết áp trong một thời gian dài lại không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt làm cho người bệnh tưởng là mình vẫn bình thường. Nhưng trên thực tế bệnh tăng huyết áp lại gây ra rất nhiều biến chứng khác nhau, nhưng những biến chứng đó lại diễn biến khá thầm lặng và ngày một nặng dần, thậm chí có thể gây tử vong cho người bệnh.

Những biến chứng thường gặp nhất do tăng huyết áp gây nên là những biến chứng ở tim, mắt, não, thận và các mạch máu lớn.

Đối với tim, tăng huyết áp thường gây ra các cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim

Đối với thận, tăng huyết áp thường gây ra có protein trong nước tiểu, suy thận

Đối với mắt, tăng huyết áp thường gây ra tổn thương đáy mắt với bốn giai đoạn khác nhau,  gây ra xuất tiết, xuất huyết, phù gai mắt... thậm chí có thể gây mù lòa cho người bệnh

Đặc biệt, tăng huyết áp rất hay gây ra các biến chứng đối với não. Đó là tình trạng nhũn não hoặc chảy máu não, tai biến mạch não thoảng qua. Các triệu chứng có thể là nhẹ như đau đầu, loạng choạng, nói hơi ngọng, méo miệng, sụp mi... hoặc nặng hơn như liệt nửa người, bán mê, hôn mê sâu...

Gần đây, chúng ta cũng gặp rất nhiều các biến chứng về mạch máu lớn do tăng huyết áp gây nên như phình, hoặc phình tách thành động mạch chủ, một biến chứng rất nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong rất cao nếu không được xử lý kịp thời.

Vì vậy tốt nhất nếu đã bị tăng huyết áp thì nên điều chỉnh ngay lối sống hợp lý và sử dụng lâu dài các loại thuốc hạ áp theo đúng như hướng dân của các thầy thuốc để có thể đạt được huyết áp mục tiêu (HA dưới 140/90mmHg) và hạn chế tối đa các biến chứng có thể xảy ra với người bệnh.

Chế độ ăn uống để bảo vệ tim mạch như thế nào?

Bởi: Nguyễn Thị Hậu (Email: **unguyenthi@yahoo.com | Điện thoại: 098867856*)
Xin chào bác sĩ, đối với phụ nữ bước sang độ tuổi ngoài 50 thì cần có chế độ ăn như thế nào để bảo vệ tim mạch, giảm thiểu được các bệnh về tăng cholesterol. Cảm ơn bác sĩ.

Với phụ nữ ngoài 50 tuổi thì do tình trạng sụt giảm về các nội tiết tố nên người bệnh thường có rất nhiều biểu hiện khó chịu như người lúc nóng lúc lạnh, da dẻ không còn mịn màng nữa, hay có cảm giác bốc hỏa, nhịp tim nhanh, đau mỏi xương khớp... Đây là hiện tượng sinh lý bình thường thường gặp ở những phụ nữ trong lứa tuổi này vì vậy chị không nên quá lo lắng. Tốt nhất chị nên điều chỉnh lại chế độ làm việc, tăng cường tập thở và tập đi bộ nhẹ nhàng hàng ngày. Chị nên hạn chế ăn mặn, tránh ăn mỡ động vật và các thực phẩm có nhiều axit béo bão hòa, nhiều cholesterol.... mà nên ăn thay bằng các loại dầu thực vật. Ngoài ra, rất cần tăng cường ăn các loại rau xanh và hoa quả  tươi trong khẩu phần ăn hàng ngày. Có thể dùng thêm một số loại vitamin và các yếu tố vi lượng khác. Chị cũng nên chú ý giai đoạn này thường có kết hợp với hiện tượng loãng xương nên trong khẩu phần ăn uống cũng cần có các chất khoáng cần thiết. 

Đẫ đặt stent thì sao bao lâu phải đặt lại?

Bởi: Nguyễn Văn Cầu (Email: **uyenvancau@gmail.com | Điện thoại: 097977654*)
Xin hỏi đối với người đã đặt Stent thì sau bao nhiêu năm sẽ phải đặt lại và việc chơi thể thao như tennis có tốt cho sức khoẻ không? Việc sử dụng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu trong bao lâu thì dừng lại?

Sau khi đã đặt Stent động mạch vành thì người bệnh bắt buộc phải sử dụng liệu pháp kháng tiểu cầu kép (Aspirin và Clopidogrel) để chống lại hiện tượng tái hẹp trong Stent. Về nguyên tắc, với các loại Stent có phủ thuốc thì thuốc Clopidogrel phải dùng ít nhất là 12 tháng còn Aspirin thì cần dùng lâu dài (nếu như không có các chống chỉ định của thuốc). 

Sau khi đã bị nhồi máu cơ tim, mặc dù đã được đặt Stent nhưng thường chức năng của tim vẫn bị suy giảm với những mức độ khác nhau vì vậy việc tập thở, tập đi lại nhẹ nhàng hàng ngày là hết sức cần thiết đối với người bệnh. Nhưng những hoạt động thể thao quá mạnh như chơi tennis thì thường không có lợi cho hệ tim mạch.